Thứ Ba, 4 tháng 10, 2016

Ba tấm ảnh - ba câu chuyện về Tướng Giáp

“Tướng Giáp nói với tôi rằng nếu không có những con đường nối với Quốc lộ 1 và đường 559 thì chúng ta không thể giải phóng Huế chỉ trong hai ngày”, ông Trần Minh Đức kể.

LTS Nhân kỷ niệm ba năm ngày mất của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thiếu tướng về hưu Trần Minh Đức, nguyên Cục trưởng Cục Hậu cần Quân khu Trị Thiên Huế, hồi tưởng lại ba kỷ niệm về vị tướng huyền thoại qua ba tấm ảnh.

Cái bắt tay ở sân bay Phú Bài ngày 28/3/1975

Tôi gặp Đại tướng lần đầu tiên hai ngày sau khi Huế giải phóng (26/3/1975), khi Đại tướng cùng Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn đáp máy bay xuống sân bay Phú Bài. Tại đây Đại tướng đã bắt chặt tay tôi, với lời khen ngợi nồng ấm…

Tướng Giáp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Đại tướng chúc mừng Đại tá Trần Minh Đức, Cục trưởng Cục Hậu cần, Quân khu Trị Thiên Huế, tại sân bay Phú Bài (Huế) ngày 28/3/1975

… Chuyện là sau cuộc Tổng Tấn công – Nổi dậy Mậu Thân, Đại tướng đã ra lệnh phải gấp rút xây dựng các tuyến đường cắt ngang, nối liền đường 559 (đường mòn Hồ Chí Minh), do ta kiểm soát, và đường quốc lộ 1, do quân đội Sài Gòn kiểm soát. Lý do bởi vì trong đợt 2 và đợt 3 của Chiến dịch Mậu Thân, quân ta không được tiếp tế đầy đủ nên đã chịu những tổn thất lớn.

Tôi, với tư cách là Cục trưởng Cục Hậu cần Quân khu Trị Thiên Huế, chịu trách nhiệm chỉ huy bộ đội xây dựng những con đường này. Trong 4 năm từ 1971 đến 1974, chúng tôi đã xây dựng xong 4 con đường là B71, B72, B73 và B74, trong đó B72 và B74 là do nâng cấp những con đường 12 và 14 do Pháp xây dựng. Trong chiến dịch Mùa Xuân năm 1975, nhờ những con đường này mà ta đã vận chuyển pháo và xe tăng thành công, phục vụ đánh Huế và Đà Nẵng…

… Đại tướng nói với tôi rằng nếu không có những con đường này, chúng ta không thể giải phóng Huế chỉ trong hai ngày như vậy. Sau đó một hôm, chúng tôi lại nhận được tin Đà Nẵng đã giải phóng.

Gọi điện cho Bí thư Đống Đa yêu cầu tôn tạo lại Pháo đài Láng

Sau khi Đại tướng đã nghỉ hưu, và tôi cũng vậy, tôi lại có dịp sinh hoạt cùng Đại tướng ở Hội Cựu Chiến binh Hà Nội. Đại tướng là Chủ tịch danh dự của Hội, còn tôi là thường trực Hội.

Tướng Giáp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Đại tướng (thứ hai từ trái sang), Bí thư quận Đống Đa (đầu tiên từ trái sang) và Thiếu tướng Trần Minh Đức (thứ 4 từ trái sang) trong buổi lễ khánh thành khu di tích Pháo đài Láng

Một hôm, đi qua Pháo đài Láng, thấy một khẩu pháo nằm chỏng trơ trên một nền đất cỏ dại mọc đầy. Là một cựu chiến binh, tự nhiên tôi thấy chạnh lòng về thân phận những khẩu pháo trong thời bình. Gặp Đại tướng tại Hội Cựu chiến binh Hà Nội, tôi liền báo cáo sự việc với Đại tướng...

…Theo sử sách nói lại hai khẩu pháo 75 ly ở Pháo đài Láng đã đồng loạt nổ súng vào Thành Hà Nội, báo hiệu ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946. Trong chiến dịch bảo vệ Hà Nội, quân và dân ta dưới sự chỉ huy của Tổng Chỉ huy Quân đội Nhân dân và Dân quân Tự vệ Võ Nguyên Giáo đã giữ được Hà Nội trong vòng 2 tháng, vượt mức mà Tướng Giáp đã hứa với Bác Hồ 1 tháng. Đầu năm 1947, quân ta rút đi và hủy một khẩu pháo…

… Đại tướng liền cho gọi điện gặp Bí thư quận Đống Đa, thông báo sự việc. Ngày hôm sau, Đại tướng cùng Bí thư và tôi đã đi quan sát thực địa.

Pháo đài Láng sau đó được tôn tạo lại, nòng pháo lại hiên ngang chĩa lên bầu trời. Khu di tích Pháo đài Láng được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 1993. Ngày khánh thành, Đại tướng cùng Bí thư quận Đống Đa và tôi lại dẫn đoàn đại biểu dự lễ, trong tiếng hoan hô của các nữ sinh Hà Nội.

Không quên lính cũ

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vị tướng, ngoài việc xuất sắc trong việc hoạch định chiến lược, còn hết sức thương quân. Nếu đánh trận mà dự báo thương vong rất nhiều, mặc dù thắng lợi, Đại tướng vẫn kiên quyết không đánh. Khi về hưu, Đại tướng vẫn không quên những người lính cũ.

Tướng Giáp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Cựu trung tá Đặng Văn Việt (đầu tiên từ trái sang), Đại tướng và Thiếu tướng Trần Minh Đức, trong khu vườn nhà ông Việt.

Khoảng năm 1995, hay năm 1996, tôi không nhớ rõ, Đại tướng có nghe tôi kể về cựu chiến binh Đặng Văn Việt khi về hưu cuộc sống rất khổ, phải đi đưa bánh kiếm thêm tiền, ông liền bảo tôi cùng đến thăm Đặng Văn Việt…

…Đặng Văn Việt (sinh năm 1920) là một cựu trung tá Quân đội Nhân dân Việt Nam. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, ông Việt đang ở quân y được điều về Bộ Tổng Tham mưu. Vì có kinh nghiệm chiến đấu với quân Pháp ở Sê Pôn trên Đường 9 cuối năm 1945, ông được phân công làm việc bên cạnh Đại tướng. Chính Đại tướng đã cử ông Việt lên tổ chức trung đoàn tác chiến trên đường số 4, nhằm ngăn chặn đường tiếp vận của quân Pháp từ Lạng Sơn lên Cao Bằng. Đại tướng đã nhìn rõ năng lực quân sự của ông, mặc dù cũng như Đại tướng ông chưa qua trường lớp quân sự nào.

Ông đã trở thành Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn 174 - một trong 3 trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông từng được người Pháp mệnh danh là "Con hùm xám đường số 4" do thành tích chỉ huy đơn vị mình trong Chiến dịch Biên giới thu đông 1950, bắt sống cả 2 chỉ huy binh đoàn Pháp là các Trung tá Marcel Lepage và Pierre Charton.

Nhưng vì vấn đề thành phần (cha ông Việt, cụ Đặng Văn Hướng nguyên là Tổng đốc Nghệ An, khi Cách mạng Tháng Tám thành công, năm 1947 cụ đãđược Hồ Chủ Tịch mời ra làm bộ trưởng bộ không bộ, nhưng chần chừ chưara. Khi có phong trào cải cách ruộng đất, cụ đã bị những người ở địaphương giết),nên sau năm 1954 ông Việt, với quân hàm trung tá, buộc phảichuyển ngành sang làm công tác thủy lợi. Đại tướng có biết, nhưng ôngkhông làm gì được…

… Đến nhà ông Việt ở khu Khương Đình, hai người vui mừng bắt tay nhau mà không nói gì. Tình cảm chỉ hiện qua ánh mắt. Hai người nói chuyện từ 9 giờ đến 11 rưỡi. Đại tướng rất quan tâm tới cuốn Đường số 4 do ông Việt viết, được Nhà Xuất bản Ngoại văn dịch ra tiếng Anh và tiếng Pháp, và đang rất nổi tiếng. Cuối buổi, cả ba chúng tôi ra vườn chụp ảnh rồi chia tay.

Huỳnh Phanghi

Quan chức hay sinh viên: nước lũ chẳng trừ một ai

Dù anh là đại gia hay sinh viên, đi xe hơi hay đi xe máy, ở biệt thự hay nhà trọ đều phải đi chung một con đường, hít chung một bầu không khí… Nước lũ không chừa một ai.

Không ai còn nghĩ đến Sài Gòn “hòn ngọc Viễn Đông” khi phải “lội” về nhà sau những cơn mưa dội xuống. Tôi nhớ đến bài nhạc chế “Lụt ngã tư đường” trong Táo quân năm 2009, không thể tin nổi sau gần 7 năm tình trạng “phố bỗng thành sông” vẫn không đổi mà ngày một nặng hơn. Bài toán quy hoạch đô thị của VN thật nan giải và “khác thường”.

Trong một chuyến công tác, tôi đến Đài Bắc đúng lúc cơn bão Meranti đổ bộ. Sau cơn bão, mọi thứ vẫn rất trật tự, đường phố sạch sẽ và không bị ngập nước. Đài Bắc có hệ thống giao thông công cộng phát triển. Hầu hết người dân đi lại bằng tàu điện ngầm nên hiếm khi kẹt xe, không khí khá trong lành. Đường có lối đi riêng cho xe đạp. Bạn tôi di chuyển bằng xe lăn trơn tru trên mọi con đường. Các công trình công hay tư đều “chào đón” anh ấy. Ở các thị trấn được gọi là miền quê của Đài Loan hiện đại hơn thành phố loại 3 của Việt Nam. Không có con đường nào mà ô tô 40 chỗ của chúng tôi không vào được. Nhà cửa ở miền quê rất chắc chắn. Đa số các nhà có ô tô.

ngập lụt, TP Hồ Chí Minh, quy hoạch, quản trị, Nhà nước

Dù anh là đại gia hay sinh viên, đi xe hơi hay đi xe máy, ở biệt thự hay nhà trọ … nước lũ không chừa một ai. Ảnh: Tuổi Trẻ

Không phải ngẫu nhiên mà Đài Loan hiện đại như vậy. Họ nói các vấn đề về chính sách mọi lúc mọi nơi, trên truyền hình lúc nào cũng cãi nhau về các vấn đề xã hội.

Lúc tôi đến, hàng chục ngàn người, đủ mọi thành phần đang đấu tranh về cải cách lương hưu. Hai năm trước, phong trào Hoa Hướng Dương do những thanh niên Đài Loan lãnh đạo, huy động hơn 500.000 người tham gia.

Phong trào này phản đối hiệp định tự do mậu dịch trong lĩnh vực dịch vụ đối với láng giềng. Sau đó Chính phủ đã quyết định không xem xét hiệp định này đến khi có một luật giám sát hiệp định thương mại.

Còn ở nước ta, nhiều người sẵn sàng cam chịu, cho qua, ít thể hiện quan điểm, nhất là về chính sách. Tâm lý chung là “nói ra cũng không giải quyết được gì”. Đúng! Một tiếng nói đơn phương sẽ chẳng tác động gì đến chính sách, phải tập hợp nhiều tiếng nói, sẽ buộc người khác phải lắng nghe và căn chỉnh hành động.

Ai cũng biết, bảo đảm hạ tầng cơ sở trơn tru là trách nhiệm của chính quyền các cấp. Tại sao sau 7 năm đường phố vẫn còn bị ngập trầm trọng như thế? Ngân sách nhà nước cấp bao lâu nay cho đề án giải ngập, giải lụt đã được giải ngân như thế nào, chất lượng ra sao? Thử hỏi từng người dân đã đủ sâu sát buộc chính quyền giải trình rõ về những câu hỏi cấp bách đó hay chưa?

Để giải ngập, giải tắc có lẽ cần phải có một chính quyền đô thị lành mạnh và cần cả sự giám sát nghiêm khắc của công dân.

Có như vậy, những vấn đề nan giải này mới có thể giải quyết tích cực. Không Nhà nước nào có thể làm được mọi việc nếu không đồng hành cùng người dân, thực tiễn đã đúc kết như vậy với mọi thời kỳ, mọi chính thể, mọi chế độ.

Ngập lụt chỉ là một nút thắt nhỏ. Mà xã hội thì còn nhiều “nút” to cũng đang cần gỡ rối như: giáo dục, tham nhũng, oan sai, an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường...

Dù anh là đại gia hay sinh viên, đi xe hơi hay đi xe máy, ở biệt thự hay nhà trọ đều phải đi chung một con đường, hít chung một bầu không khí… Nếu chúng ta không lên tiếng nói thẳng với nhau e những khuyết tật này sẽ khó thay đổi.

Trần Long Vi

Nhận trợ cấp vẫn ‘hoành tráng’ ngàn tỷ xây quảng trường – tượng đài

“Chiếc bánh ngân sách quốc gia” sẽ có cơ hội to hơn và to nhanh hơn... nếu có chính sách chăm lo thật sự tới những “xưởng bánh” và người làm ra chiếc bánh.

Gần đây xuất hiện nhiều thông tin liên quan đến việc tiêu xài ngân sách nhà nước một cách lãng phí, như chuyện chỉ riêng việc chăm sóc cây - hoa ở đại lộ Thăng Long tại Hà Nội đã “ngốn” hết 53 tỉ đồng mỗi năm, mới thấy Quốc hội cần phải xem xét lại vấn đề phân bổ ngân sách.

Ở Hà Nội, trong khi các cây cầu bắc qua sông Hồng, đường sắt trên cao được Bộ Giao thông Vận tải “bao” làm chủ đầu tư, khu công nghệ cao được Bộ Khoa học và Công nghệ “lo” cả về nhân sự lẫn vốn đầu tư... thì tại TPHCM “trăm dâu đổ đầu tằm”, tất tật trông chờ vào nguồn chi hạn hẹp được điều tiết để lại chỉ hơn 20% tổng thu trên địa bàn. Nhìn rộng ra cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cũng vậy, dù đóng góp gần 60% vào “chiếc bánh ngân sách quốc gia” nhưng đến nay vùng này mới được đầu tư khoảng 100 ki lô mét đường bộ cao tốc so với chừng 600 ki lô mét ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và lân cận.

Cách phân bổ ngân sách hiện nay dẫn đến nghịch lý số ít địa phương (khoảng 13 tỉnh thành) luôn phải gồng mình tăng thu ngân sách để bảo đảm chỉ tiêu pháp lệnh, trong khi số đông các địa phương khác (50 tỉnh thành) tuy còn phải phụ thuộc trợ cấp từ ngân sách trung ương lại có vẻ rủng rỉnh, thậm chí chi bạo “phần bánh” được trợ cấp hàng năm.

Ngân sách quốc gia, tượng đài nghìn tỷ, TP HCM, Hà Nội

TPHCM, dù liên tục thu vượt dự toán được giao nhưng để được hưởng chế độ thưởng vượt thu, có thêm nguồn chi đáp ứng các nhu cầu cấp bách cũng phải “vất vả đi xin”! Ảnh: MINH KHUÊ/ TBKTSG

Thật không hợp lý khi nhiều tỉnh, thành thậm chí phải nhận trợ cấp tới 50% lại mạnh chi tới hàng ngàn tỉ đồng cho việc xây dựng trung tâm hành chính, quảng trường - tượng đài, địa phương làm sau luôn hoành tráng hơn địa phương làm trước!

Tuy nhiên, nước ta hiện đâu chỉ có mỗi sự bất hợp lý về vấn đề chia “chiếc bánh ngân sách”, việc thâm dụng quỹ bảo hiểm y tế đang diễn ra ở không ít địa phương “thu thấp chi cao” cũng còn nóng hổi. Sáu tháng đầu năm 2016, tỉnh Thanh Hóa bội chi gần 400 tỉ đồng, Nghệ An khoảng 300 tỉ đồng, Thái Bình hơn 200 tỉ đồng... Những con số ấy cũng làm những người, những nơi đóng góp lớn nhất vào quỹ bảo hiểm y tế như TPHCM không khỏi chạnh lòng. Vẫn biết đạo lý là phải san sẻ, hỗ trợ cho người nghèo, giúp đỡ địa phương khó khăn, nhưng khi nguyên nhân thâm hụt quỹ bảo hiểm y tế ở nhiều nơi được xác định chủ yếu do trục lợi (mua thuốc giá cao bất thường, chỉ định dịch vụ tràn lan quá mức cần thiết, áp giá dịch vụ sai, thanh toán trùng, thậm chí... khuyến mãi đi khám bệnh!) thì khó ai có thể cảm thông, chia sẻ được!

Chiếc bánh ngân sách quốc gia sẽ có cơ hội to hơn và to nhanh hơn... nếu có chính sách chăm lo thật sự tới những xưởng bánh và người làm ra chiếc bánh.

Người ta thường ví ngân sách nhà nước như chiếc bánh chung đem chia cho tất cả quốc dân. Cùng với những bất hợp lý về cơ chế hành chính (đô thị, nông thôn, miền núi... giống nhau), chế độ tiền lương (công chức, viên chức đều theo kiểu “hòa cả làng”)... việc hình thành và chia “chiếc bánh ngân sách” của nước ta đang chứa đựng một nghịch lý cơ bản: 20% tỉnh, thành (thành phần chính làm ra “chiếc bánh”) đang phải liên tục phấn đấu tăng thu, không những để đủ tiền nuôi mình mà còn phải bảo đảm cân đối nhu cầu chi cho 80% địa phương khác hưởng trợ cấp. Nghịch lý này tồn tại quá lâu và đương nhiên là phi lý.

Trong tình cảnh ấy, lẽ ra phải có chính sách tích cực động viên, dưỡng sức cho “người làm bánh” để chiếc bánh ấy ngày càng to thì thực tế lại chưa thực hiện đúng chủ trương “nuôi dưỡng nguồn thu”, “động viên tăng thu”. Thậm chí, như TPHCM, dù liên tục thu vượt dự toán được giao nhưng để được hưởng chế độ thưởng vượt thu, có thêm nguồn chi đáp ứng các nhu cầu cấp bách cũng phải “vất vả đi xin”!

“Xưởng bánh” và những “người làm bánh” chưa được quan tâm đúng mức cần thiết là một thực tế, dẫn đến nhiều hệ lụy, làm giảm tốc độ phát triển chung của đất nước. Nói cách khác, “chiếc bánh ngân sách quốc gia” sẽ có cơ hội to hơn và to nhanh hơn... nếu có chính sách chăm lo thật sự tới những “xưởng bánh” và người làm ra chiếc bánh.

TheoNguyễn Văn Hùng/ Thời báo Kinh tế Sài Gòn

*Tiêu đề bài viết do Tuần Việt Nam đặt

Đối thoại với con trai Lê Duẩn và Thượng tọa Thích Thanh Quyết

Gần 800 năm đã qua, rốt cuộc hậu thế đã hiểu đúng, hiểu trúng những tư tưởng mà con người vĩ đại ấy để lại hay chưa? Và, trong cuộc sống hiện đại hôm nay, giữa một nhân loại đa diện, bộn bề, nhiều phức tạp thì việc cùng nhau ngẫm lại những tư tưởng ấy liệu có mang lại điều gì bổ ích?

Đấy là những vấn đề mà Chuyên đề An ninh thế giới Giữa tháng - Cuối tháng đặt ra cho Thượng tọa Thích Thanh Quyết, Phó chủ tịch Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì Khu di tích Yên Tử và Tiến sĩ Lê Kiên Thành - con trai Tổng Bí thư Lê Duẩn trong cuộc đối thoại tháng 9 này.

Lê Kiên Thành, Thích Thanh Quyết, Phật giáo, Trần Nhân Tông, Đảng viên
Thượng tọa Thích Thanh Quyết (trái) và Tiến sĩ Lê Kiên Thành

- Nhà báo Phan Đăng: Thưa Thượng tọa Thích Thanh Quyết, không biết là hạnh ngộ nào đã dẫn thầy đến với Yên Tử, và không biết trong đêm đầu tiên ở Yên Tử, thượng tọa có mơ giấc mơ đặc biệt nào không?

- Thượng tọa Thích Thanh Quyết: Trong đêm đầu tiên ở Yên Tử tôi cũng không mơ điều gì đặc biệt, nhưng có điều này đặc biệt, chia sẻ với anh: Đó là ngày 19 tháng 12 âm lịch năm 2003, tôi nhận quyết định về chùa Vân Tiêu, và cùng 8 anh em nữa lên tiếp quản chùa thì khi đi đến cổng trời, cách chùa 100m, tôi bỗng thấy người hơi khó chịu.

Tôi liền dựa vào vách núi, nhưng người càng khó chịu hơn, và tôi vẫn nhớ câu mình nói với mọi người khi ấy: “Tôi đang làm sao thế này?”, rồi cứ thế lặng đi, không còn biết gì nữa. Anh em kể lại là lúc đó họ rất hoảng sợ, nên mang áo ngoài choàng vào cho tôi, rồi xoa bóp, bấm huyệt, nhưng người tôi cứ tím đen hết lại.

Mọi người thậm chí sợ tôi sẽ chết. Nhưng một lúc sau, khi được mọi người bấm huyệt xong thì tôi từ từ tỉnh lại, và mọi người bảo khi ấy, tôi, một cách vô thức thôi đã nói câu: “Tôi sẽ làm được Yên Tử”.

Lạ nữa là sau câu đó tôi lại có thể đi bình thường, như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Cho đến giờ phút này, nghĩ lại tôi cũng không cắt nghĩa được là rốt cuộc hôm ấy điều gì đã xảy ra với mình.

Lê Kiên Thành, Thích Thanh Quyết, Phật giáo, Trần Nhân Tông, Đảng viên

- Nhà báo Phan Đăng: Đấy là cái duyên, là hạnh ngộ của thầy Quyết với Yên Tử, còn với Tiến sĩ Lê Kiên Thành thì sao ạ? Và với ba ông, Tổng Bí thư Lê Duẩn nữa, không biết lúc còn sống, ba ông đã đến Yên Tử bao giờ chưa?

- Tiến sĩ Lê Kiên Thành: Tính đến năm ngoái thì tôi đã có 25 năm liên tục lên Yên Tử. Tôi thấy khung cảnh ở đây quyến rũ mình kinh khủng, nó như một nơi hội tụ không chỉ của tình cảm tốt, ý nghĩ tốt mà dường như còn cả trí tuệ nữa.

Còn về ba tôi thì tôi có nghe các chú bảo vệ của ba kể lại rằng: “Ngày xưa, trong những lúc khó khăn nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ, ông già anh đã đi lên Yên Tử”. Đó là quãng những năm 1962, 1963 gì đấy, khi Mỹ chuẩn bị ném bom ra miền Bắc.

- Tôi thì mới đi Yên Tử được 3 lần thôi ạ, và cũng giống như tất cả mọi người, khi đứng ở Yên Tử tôi nghĩ nhiều đến tư tưởng Phật hoàng Trần Nhân Tông, trong đó có một điều mà hôm nay tôi rất muốn được lắng nghe những kiến giải của Thượng tọa Thích Thanh Quyết. Thưa thầy, cho đến trước khi đức ngài Trần Nhân Tông tạo ra trường phái thiền Trúc Lâm thì ở Việt Nam đã có những dòng thiền nổi tiếng như Tì Ni Đa Lưu Chi, Thảo Đường, Vô Ngôn Thông. Vậy tại sao ngài lại không đi theo một trong các thiền phái này mà phải tạo ra một dòng thiền khác? Có phải vì ngài ý thức rằng đến thời điểm đó, phải có một tư tưởng Phật học nào đó mang tính Việt Nam, với những đặc điểm riêng của Việt Nam?

- Thượng tọa Thích Thanh Quyết: Đúng như anh nói, trước khi Phật hoàng ra đời, chúng ta đã có 3 dòng thiền lớn kể trên và rất nhiều dòng thiền nhỏ nữa, bên cạnh đó còn có Nho giáo và Đạo giáo. Trong 3 tôn giáo ấy, Phật hoàng nhận thấy tôn giáo nào cũng tốt, nhưng Phật giáo chiếm ưu thế hơn và hợp với tâm tư nguyện vọng của dân tộc mình hơn.

Phải nhấn mạnh thế để thấy Thiền phái Trúc Lâm của Phật hoàng thực chất không chỉ thuần túy là Phật giáo, mà còn có cả những yếu tố tốt đẹp nhất của Nho giáo lẫn Đạo giáo. Chính vì thế, khác hẳn những dòng thiền của Ấn Độ hay Trung Quốc, ở Thiền phái Trúc Lâm, thiền không thuần tuý là thiền đâu, không phải luôn luôn ngồi một chỗ, tĩnh lặng để thiền đâu.

Với tư tưởng Trúc Lâm, hình thức ngồi thiền chỉ mang tính chừng mực thôi, còn cơ bản phải là thiền tại tâm. Và Phật hoàng có quan điểm rằng khi đã định tâm rồi thì đi cũng có thể thiền, ngồi cũng có thể thiền, và ngay cả trên lưng ngựa cũng thiền được.

Lê Kiên Thành, Thích Thanh Quyết, Phật giáo, Trần Nhân Tông, Đảng viên

- Qua phân tích của thầy có thể thấy Phật hoàng đã tiếp nhận những tư tưởng thiền từ bên ngoài, nhưng không áp dụng nó rập khuôn, máy móc, mà biến nó từ một cái của người trở thành một cái riêng của mình. Thưa Tiến sĩ Lê Kiên Thành, cá nhân tôi nghĩ đấy là một việc làm cực kỳ ý nghĩa, vì nó đánh động sự tự tin và những giá trị nội sinh dân tộc, ông có nghĩ thế không?

- Tiến sĩ Lê Kiên Thành: Nhiều năm qua tôi nghĩ nhiều về vua Trần Nhân Tông, và theo tôi có thể sau 2 lần thắng giặc, ông hiểu rằng giặc sẽ còn đến, và sẽ rất mạnh. Chúng ta muốn thắng giặc, bảo vệ đất nước thì gươm giáo thôi không đủ, mà phải trang bị một cái gì khác nữa cho dân tộc mình. Cái khác đó, cụ thể ở đây là tư tưởng thiền, mà như thầy Quyết vừa nói, đấy là một hình thức thiền rất Việt Nam. Đi tu với Trần Nhân Tông không phải để trốn đời mà để tìm ra một tư tưởng cho dân tộc.

- Tôi rất đồng ý với Tiến sĩ Lê Kiên Thành ở điểm: Một dân tộc chỉ có thể giữ mình và phát triển với điều kiện dân tộc ấy phải có một tư tưởng riêng, thật sự phù hợp. Tôi muốn hỏi rất thẳng thắn rằng, khi còn sống, cha ông - Tổng Bí thư Lê Duẩn đã bao giờ đề cập tới điều này chưa? Và ở thế hệ của cha ông thì tư tưởng riêng đó, cái mà chúng ta thống nhất với nhau là rất cần thiết đó, rốt cuộc đã được thể hiện một cách rõ ràng hay chưa?

- Tiến sĩ Lê Kiên Thành: Ba tôi có kể lại chuyện trong những lần tranh luận với những nhà lãnh đạo cách mạng được đi học từ Liên Xô về như Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Phong, ông đã nói rằng: Các đồng chí muốn mang những tư tưởng tốt từ Liên Xô, Trung Quốc về thì phải hiểu Việt Nam mình trước đã.

Ví dụ, ba tôi từng nói với tôi rằng ông không muốn nhấn mạnh nhiều đến chữ “chuyên chính vô sản” lắm đâu. Thay vào đó ông muốn dùng khái niệm “làm chủ tập thể”, và ở khái niệm này thì không có sự phân biệt giai cấp, tôn giáo nào cả. Hồi tôi nhỏ, tôi nghe thấy hơi bị hẫng, vì nó khác so với những điều tôi được học trong trường.

Lê Kiên Thành, Thích Thanh Quyết, Phật giáo, Trần Nhân Tông, Đảng viên

- Đến đây thì tôi thấy chuyện Phật giáo hay chuyện chính trị, chuyện đạo hay chuyện đời thì cũng gặp nhau ở điểm: Một khi chúng ta thấy được cái hay của những chủ thuyết, triết thuyết bên ngoài, chúng ta cần áp dụng nó vào mình, nhưng nếu chúng ta chìm đắm vào nó một cách lầm lạc, áp dụng nó một cách máy móc, mà không ý thức đến việc phải tạo ra cái riêng, phù hợp với hoàn cảnh của mình thì có lẽ kết quả đạt được sẽ không như ý?

- Tiến sĩ Lê Kiên Thành: Với thầy Quyết đây, thầy đúng là người của Phật giáo nhưng tôi tin thầy luôn ý thức rằng mình là người Phật giáo Việt Nam. Với người cộng sản Việt Nam cũng vậy thôi, cộng sản gì thì cũng là người Việt Nam, phải có nhiệm vụ mang lại lợi ích cho dân tộc Việt Nam. Trong chủ nghĩa cộng sản hẳn nhiên có cả tinh thần quốc tế vô sản, nhưng suy cho cùng lợi ích dân tộc vẫn phải là cuối cùng và trên hết.

Mà tại sao trong Phật giáo, gần như không có chuyện các vị tu hành ép buộc người ta theo Phật mà rốt cuộc người ta vẫn tự nguyện đi theo? Tôi nghĩ, khi nào lợi ích của tôn giáo gắn liền với lợi ích của từng con người, từng dân tộc, và khi Phật đã thật sự ở trong tâm mình rồi thì người dân sẽ tự khắc, tự nguyện đi theo. Những người cộng sản đầu tiên của chúng ta cũng thế, họ cũng đâu ép buộc người dân phải theo mình, nhưng người dân vẫn tự nguyện theo, vì khi đó lợi ích của hai bên gắn chặt, trùng khít nhau.

- Tiến sĩ Lê Kiên Thành vừa nhắc tới khái niệm “Phật tại tâm”, mà nói theo ngôn ngữ của Thiền phái Trúc Lâm là “Trực chỉ nhân tâm/ Kiến tánh thành Phật”. Có thể nói đây cũng là một tư tưởng mà Thiền phái Trúc Lâm đặc biệt nhấn mạnh, phải không thưa Thượng tọa Thích Thanh Quyết?

- Thượng tọa Thích Thanh Quyết: Đức Phật cho rằng Phật có ở trong mỗi con người rồi, nhưng vấn đề là chúng ta có giác ngộ được điều đó hay không? Đức Phật cũng chỉ dạy cho ta muốn giác ngộ thì phải có hai điều kiện, một là phải có trí tuệ, có sự hiểu biết, nhận thức sâu sắc và hai là phải có đạo hạnh, có nhân cách cao cả.

Trần Thái Tông - ông nội của Trần Nhân Tông từng được quốc sư Phù Vân khuyên rằng: “Thôi, bệ hạ cứ về lãnh đạo đất nước đi, chứ đừng ra ngoài rừng núi tìm Phật nữa, vì Phật ở chính trong tâm bệ hạ. Bệ hạ thiết triều, lãnh đạo quốc gia, dân tộc tốt thì Phật ở trong tâm bệ hạ đã là một vị Phật sáng suốt rồi”.

Và Trần Thái Tông đã giác ngộ được điều này, từ đó tìm Phật trong chính mình, chứ không phải tìm ở bên ngoài mình, như ý nghĩ ban đầu. Sau khi làm vua xong, Trần Thái Tông xuất gia, nhưng không về Yên Tử, mà theo lời khuyên của quốc sư Phù Vân, tu ngay tại chùa trong hoàng thành để có thể tiện giúp triều đình những chuyện cần xử thế.

Đến Trần Thánh Tông - người về sau này nhường ngôi cho con trai mình là Trần Nhân Tông cũng thế, ông kế nghiệp tư tưởng ấy, và cũng xuất gia ở một ngôi chùa trong hoàng thành. Tư tưởng của Trần Thái Tông, kết hợp với Trần Thánh Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ làm thành trụ cột tư tưởng lớn của Trần Nhân Tông sau này.

- Và thông qua những buổi giảng pháp rộng rãi của Phật hoàng mà tư tưởng “Phật tại tâm” không chỉ thấm vào tâm hồn vua quan, mà còn thấm vào từng người dân nữa. Thưa Thượng tọa Thích Thanh Quyết, khi mỗi người dân cũng thấm thía được điều đó thì có lẽ mối quan hệ giữa người với người sẽ tốt đẹp, tử tế lắm phải không ạ?

- Thượng tọa Thích Thanh Quyết: Thiền trên thế giới phân thành: nông thiền, quan thiền và Trung Quốc là sĩ đại phu thiền. Nông thiền là thiền dành cho nông dân. Quan thiền dành cho quan chức. Sĩ đại phu thiền là thiền dành cho những bậc trí thức, trí giả của thời đại.

Riêng ở Việt Nam, ba nấc đó đều có nhưng không phân biệt, mà hoà quyện với nhau, nhưng đặc thù lớn nhất của thiền Việt Nam, thiền Trần Nhân Tông phải là đế vương thiền, nghĩa là thiền dành cho vua. Ở mình có nhiều vị vua đi tu, hoặc nếu không đi tu thì cũng đắc đạo, nhiều vị được truyền tâm ấn của thiền tông.

Một khi vua đã theo Phật thì không cần ai bảo ai, quan lại cũng cứ thế mà theo, sĩ đại phu cũng theo, toàn dân theo. Việt Nam có đặc thù như thế, cho nên mặc dù chưa có văn bản nào công nhận đạo Phật ở thời Lý - Trần là quốc giáo, nhưng thực tế nó đã là quốc giáo. Và ở một xã hội, một thời đại mà đạo Phật là quốc giáo thì đúng là con người với con người đã quan hệ, đối xử với nhau một cách êm đềm, tử tế.

- Dĩ nhiên là sự tử tế trong khuôn khổ của thời đại thầy nhỉ? Bây giờ thì tôi rất muốn hỏi Tiến sĩ Lê Kiên Thành rằng, trong thời hiện đại mà ông đã sống, đã trải nghiệm và quan sát thì sao, liệu có một giai đoạn nào đó mà con người với con người cũng đối xử với nhau một cách êm đềm, tử tế như thầy Quyết vừa nói hay không?

- Tiến sĩ Lê Kiên Thành: (Ngẫm nghĩ...) Có! Đấy là giai đoạn tất cả những người lãnh đạo của mình phải sống một nửa thời gian trong ngục tù. Những người ấy không phải vì nghèo mà đi làm cách mạng đâu, vì ba tôi kể rất nhiều người trong số họ xuất thân trong những gia đình khá giả.

Họ đi làm cách mạng vì lẽ phải, vì một ý tưởng chung, chứ không phải là vì mưu cầu một cái gì đó. Phật tổ vốn là một hoàng tử hẳn hoi, nhưng khi ra ngoài cửa thành, thấy cuộc đời bên ngoài khổ quá, ông đi vào cái khổ ấy, và từ đó tìm ra được ý nghĩa của hạnh phúc.

Ở đời, đi tìm hạnh phúc trong sự yên lành thì khó thấy, nên nhiều khi phải tìm nó trong những đau khổ nhất, lầm than nhất. Có một giai đoạn dài, những nhà lãnh đạo Đảng của ta nằm ở những chỗ khó khăn nhất, đau đớn nhất của một dân tộc, và tôi nghĩ chính ở chỗ đó họ tìm được hạnh phúc cuộc đời mình.

- Vậy thời bây giờ thì sao? Thời bây giờ, chúng ta có nhiều ngôi chùa được xây, thậm chí là những ngôi chùa được đánh giá to nhất nhì Đông Nam Á; chúng ta cũng có một số lượng Đảng viên lớn mạnh, hùng hậu chưa từng thấy, Tiến sĩ sẽ nói gì ạ?

- Tiến sĩ Lê Kiên Thành: Thời bây giờ, tôi thấy mình hay nói câu “dân giàu, nước mạnh...”, và nói thế sẽ không tránh khỏi việc bị hiểu đơn giản rằng dân cứ giàu lên thì nước tất yếu sẽ mạnh.

Thực tế chúng ta không thể làm giàu bằng mọi cách được, vì ngay cả khi có một số lượng người giàu kỷ lục, nhưng là giàu bằng mọi cách, giàu bất hợp pháp thì nước cũng khó mạnh lắm. Anh biết Kuwait là nước giàu thuộc tốp đầu thế giới rồi đấy, thế mà từng xảy ra tình trạng chỉ sau 3 ngày thì mất nước.

Trước đây, chúng ta từng rất nghèo nhưng chính cái lúc nghèo khó ấy lại thắng được đế quốc Mỹ. Chúng ta thắng Mỹ vì chắc chắn chúng ta mạnh, chứ không phải chỉ là may mắn. Mà nó phải là sức mạnh vật chất thật sự, chứ không chỉ là sức mạnh tinh thần đâu. Bởi không có cái tinh thần nào bắn hạ được B52 cả.

Bây giờ tôi nghĩ chúng ta có thể có được những cái máy, những quả tên lửa, những chiếc tàu ngầm mà chúng ta chưa từng có, nhưng liệu chúng ta có mạnh được như thời chúng ta đã từng mạnh không? Tôi hơi bâng khuâng trước câu hỏi này, và tôi nghĩ hình như đang có những xao động nào đó trong lòng người dân.

- Thượng tọa Thích Thanh Quyết: Thời gian vừa rồi mình hoà nhập nhiều thứ quá, trong tâm mỗi người dân chưa tiêu hoá hết cái nọ thì cái kia đã đến, cho nên con người ta chới với, hoang mang. Trong khi đó nhiều giá trị cũ của cha ông ta thì chúng ta không quan tâm đến.

Lê Kiên Thành, Thích Thanh Quyết, Phật giáo, Trần Nhân Tông, Đảng viên

- Như thầy Quyết vừa nói, thời Lý - Trần dân tộc ta có điểm chung tư tưởng là Phật giáo, còn như Tiến sĩ Thành vừa nói, ở thời cách mạng hiện đại, chúng ta lại có điểm chung là chủ nghĩa Mác, là Đảng, và khi cả một dân tộc có một điểm chung tư tưởng thì sức sống của dân tộc là cực lớn.

Bây giờ tôi thấy về mặt lý luận chúng ta vẫn đang nêu cao chủ nghĩa Mác - Lênin, về mặt thực tiễn, chưa bao giờ số lượng Đảng viên lại nhiều như thế, nghĩa là chúng ta vẫn đang có những điểm chung lớn lao đấy chứ, vậy tại sao lại có cái mà Tiến sĩ Thành gọi là “những xao động trong lòng người dân”?

Phải chăng điểm chung này có một sự khác biệt nào đó về bản chất so với trước, ví dụ như ngày trước, phần lớn người ta vào Đảng là để được phấn đấu, hy sinh, còn bây giờ một bộ phận người nào đó vào Đảng là để được ngồi vào vị trí nọ, vị trí kia trong bộ máy, từ đó có cơ hội tư lợi cho mình và nhóm hội của mình? Cá nhân tôi không trả lời được những câu hỏi này, thưa Tiến sĩ Lê Kiên Thành.

- Tiến sĩ Lê Kiên Thành: Đi theo chủ nghĩa Mác là một phương tiện, một hình thức để chúng ta vượt qua những thực tại khó khăn và vươn tới những thực tại tốt đẹp. Nhưng chúng ta phải hiểu chủ nghĩa Mác một cách biện chứng như chính chủ nghĩa đó muốn.

Một trong những điều Mác nói rất nhiều chính là sự biện chứng, rằng biện chứng không phải là ngày hôm nay nó như thế này thì ngày mai nó vẫn mãi như thế. Chúng ta đi theo Mác nhưng chúng ta có hiểu và vận dụng tinh thần biện chứng cốt lõi đấy của Mác không, hay chỉ vin vào từng câu từng chữ?

Trong quá khứ, với chủ nghĩa Mác, chúng ta đã thành công trong việc đấu tranh, giành độc lập dân tộc, và điều đó chứng tỏ việc đi theo chủ nghĩa Mác là đúng đắn. Nhưng ở những giai đoạn nhất định nào đó, nếu chỉ vì những thành công trước đây mà lại máy móc áp dụng chủ nghĩa ấy, chưa kể những người lợi dụng chủ nghĩa ấy để duy trì lợi ích cá nhân, thì chắc chắn cái chủ nghĩa ấy sẽ bị méo mó đi. Rất nhiều nhà tư bản từng bảo sở dĩ họ thành công được là vì họ nghiên cứu Mác từ thời còn rất trẻ.

Họ thấy Mác chỉ ra những điều mâu thuẫn nhất trong xã hội, và họ tìm ra cách khắc phục nó. Đến những nhà tư bản còn nói về chủ nghĩa Mác như thế thì tại sao chúng ta lại không tự tin vào chủ nghĩa ấy? Chỉ có điều, chúng ta phải biết vận dụng nó một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn của mình. Ba tôi từng nói một câu rằng, cứ khi nào chúng ta suy nghĩ và hành động một cách độc lập thì chúng ta thắng, còn khi nào chúng ta suy nghĩ rập khuôn, phụ thuộc bên ngoài một cách máy móc thì chúng ta thất bại.

Lê Kiên Thành, Thích Thanh Quyết, Phật giáo, Trần Nhân Tông, Đảng viên

- Ông có thể kể một ví dụ cụ thể nào đó về ba ông, để chứng minh điều này một cách thuyết phục hơn được không ạ?

- Tiến sĩ Lê Kiên Thành: Có lần tôi ngồi với một nhà ngoại giao Mỹ, tôi nói, xưa kia các ông đánh chúng tôi vì các ông hiểu nhầm là chúng tôi theo Liên Xô, Trung Quốc. Thực tế mà nói, một nước Việt Nam nhỏ bé, ở xa nước Mỹ thì có vai trò gì mà nước Mỹ phải mang nửa triệu quân cùng những tiềm lực quốc phòng, kinh tế mạnh nhất đến đây để đánh. Nước Mỹ đánh Việt Nam không phải vì Việt Nam, mà vì muốn đánh vào Liên Xô, Trung Quốc.

Nhưng đấy là sự nhầm lẫn lớn nhất của họ. Và tôi nói: Chính cái điều các ông nhầm lại là điều giúp chúng tôi thắng được các ông, vì thực tế chúng tôi không nghe theo Liên Xô, không nghe theo Trung Quốc như các ông tưởng.

Tại sao nói như vậy? Tại vì trong suốt cuộc kháng chiến, mặc dù Liên Xô, Trung Quốc viện trợ mình, nhưng trong thâm tâm họ, chưa bao giờ họ muốn Việt Nam hoàn toàn thắng Mỹ, mà muốn giữ Việt Nam như cái nơi để nước Mỹ tiếp tục phải chìm đắm vào đấy, tiêu hao vào đấy, và giữ Việt Nam như một khu đệm, phục vụ cho những toan tính riêng của họ.

Khi ba tôi hội đàm ở Matxơcơva với ông Chủ tịch hội đồng nhà nước Liên Xô thì ông ấy đã nói với ba tôi: Các đồng chí không bao giờ thắng được Mỹ, vì Mỹ mạnh đến mức chúng tôi còn phải sợ.

Những người đi với ba tôi bảo chưa bao giờ thấy ông giận như lúc ấy, ông bỏ qua mọi nghi lễ ngoại giao mà đập bàn rất mạnh, rồi nói lại: Các đồng chí ủng hộ chúng tôi, chúng tôi sẽ thắng Mỹ với sự hy sinh ít nhất. Các đồng chí không ủng hộ chúng tôi, chúng tôi vẫn sẽ thắng Mỹ với những sự hy sinh gấp 3, gấp 4 lần. Và khi chúng ta thắng Mỹ rồi, ba tôi gặp lại ông này thì thấy ông ấy buồn vô cùng, vì rốt cuộc ông ấy đã sai.

Còn với Trung Quốc thì không biết bao nhiêu lần họ bảo mình: Các đồng chí làm gì thì làm cũng chỉ nên đánh ở mức trung đội thôi, chứ đánh thêm là thất bại. Đến khi mình đánh rồi, Mỹ đồng ý ngồi vào bàn đàm phán rồi thì họ lại nói là tại sao phải đàm phán?

Có đồng chí lãnh đạo của mình nghe thế chất vấn ba tôi: Mình đang thắng tại sao phải đi đàm phán? Có người còn nói găng rằng: Anh Ba mà bắt tôi ngồi với Thiệu thì có chặt đầu tôi, tôi cũng không ngồi. Ba tôi bảo đấy là ý đồ của những người không muốn ta thắng Mỹ. Còn vấn đề của chúng ta là phải kéo Mỹ xuống để mà thắng Mỹ.

Thời ấy mình phải chống lại Mỹ và lo đối phó với những người bạn khác. Nói vậy không phải mình vô ơn với họ, mà phải có một suy nghĩ độc lập để thực sự hiểu những toan tính, lợi ích của họ.

(Còn tiếp)

Phan Đăng (thực hiện)/ Theo ANTGCT/ CAND (bài và ảnh)

*Tiêu đề bài viết do Tuần Việt Nam đặt

Thứ Bảy, 24 tháng 9, 2016

Bối cảnh cho Ceritalah – Những câu chuyện Đông Nam Á

Nếu nhìn lại thì dường như đó là một nét đẹp lạ lùng của vùng Đông Nam Á, một cerita hay một cậu chuyện như vậy luôn có thể xảy ra và nếu quý độc giả đủ may mắn thì cũng sẽ được tận mắt chứng kiến những câu chuyện phi thường ấy.

Tháng Năm năm 1998, đồng Rupiah của Indonesia đã không còn đủ sức nâng đỡ nền kinh tế. Thủ đô Jakarta ngập tràn trong các cuộc bạo động sắc tộc mà mục tiêu là các cơ sở kinh doanh có chủ sở hữu là người Indonesia gốc Trung Quốc.

Tại thành phố Solo ở tỉnh Trung Java, cách thủ đô 556 km về hướng đông, một doanh nhân người Indonesia gốc Trung mang tên Sumartono Hadinoto đang ngồi trong lo lắng. Thành phố yên tĩnh đến rợn người. Ông biết chắc chắn sẽ có vấn đề nảy sinh. Chỉ trong một vài giờ, văn phòng và cũng là nhà của ông đã bị tấn công, cướp bóc và sau đó thiêu cháy. Ông cố bò ra ngoài từ một cái lỗ phía sau nhà để chạy trốn khỏi đám đông giận dữ.

Mãi mười năm sau tôi mới có dịp gặp gỡ và phỏng vấn ông, nhưng những ký ức của năm 1998 đó vẫn còn rất tươi mới. Mặc dù vậy, ông Sumartono là một người lạc quan và có niềm tin vững chắc vào quy luật “trả trước hưởng sau”.

Ông đã huy động vốn từ bạn bè của mình là các doanh nhân người Indonesia gốc Trung cho việc mua xe cứu thương và các chương trình nâng cao sức khỏe cộng đồng. Sumartono hiểu rằng để duy trì mối quan hệ tốt giữa các sắc tộc, người ta cần tính kiên trì và sự nhún nhường.

Ông cũng thường hay nhận xét rằng thành phố Solo thật may mắn khi có ngài thị trưởng là một chính trị gia tiến bộ kiêm cựu doanh nhân khởi nghiệp. Ngài thị trưởng trẻ tuổi đã đạt rất nhiều thành tựu trong việc xây dựng lại lòng tin và sự tín nhiệm tại một thành phố đã từng trải qua chia rẽ sắc tộc.

ASEAN, thủ đô Jakarta, Indonesia, thành phố Solo, bầu cử Indonesia

Ông Widodo (thứ hai từ phải sang) tiếp xúc cử tri khi còn tranh cử chức thống đốc Jakarta - Ảnh: Jakarta Globe

Sáu năm sau, tôi quay lại Solo, lần này là với đội ngũ truyền hình. Ông Sumartono trở thành người dẫn chuyện. Cuộc bầu cử tổng thống Indonesia đang bắt đầu có những bước khởi động. Ngài thị trưởng thành phố Solo lúc đó đã trở thành tỉnh trưởng Jakarta, trùng hợp thay cũng là một trong các ứng viên cho chức tổng thống.

Chúng tôi quay những cảnh cuối của chương trình TV trên những con đường đông đúc của thành phố Solo với hàng chục nghìn người đang tụ tập để chúc mừng năm mới theo âm lịch. Họ cùng nhau thắp sáng những chiếc đèn lồng giấy muôn màu rồi thả lên bầu trời đêm cao rộng.

Một vài tháng sau đó, ngài tỉnh trưởng đã nhậm chức tân Tổng thống và ngài phó tỉnh trưởng Jakarta lúc trước, cũng là một người Indonesia gốc Trung, trở thành tỉnh trưởng. Một chuỗi các sự kiện phi thường mà cho đến thời điểm hiện tại, tức hai năm sau đó, tôi vẫn còn thấy kinh ngạc.

Nhưng nếu nhìn lại thì dường như đó là một nét đẹp lạ lùng của vùng Đông Nam Á, một cerita hay một cậu chuyện như vậy luôn có thể xảy ra và nếu quý độc giả đủ may mắn thì cũng sẽ được tận mắt chứng kiến những câu chuyện phi thường ấy.

Đó chính là tinh thần của chuyên mục Ceritalah – Những câu chuyện ASEAN.

Ceritalah có thể hiểu đơn giản là “hãy kể cho tôi nghe những câu chuyện”.

Đó có thể là những câu chuyện đời thường hằng ngày nghe được trong quán cà phê. Năm này qua năm khác, tôi dần phát hiện ra rằng một ceritah, hay một câu chuyện sẽ dẫn dắt tới một câu chuyện khác, cho tới khi tôi hoàn toàn dính mắc vào trong mạng lưới đan xen của những hoài niệm, những hồi ức, và đây thường lại là những câu chuyện mang tầm vĩ mô.

Tôi đã chắp bút cho chuyên mục trong một khoảng thời gian hơn 20 năm. Tất cả bắt đầu tại quê hương tôi, Malaysia. Nhưng sau đó phạm vi của chuyên mục ngày càng được mở rộng theo những nhu cầu xã hội khi tôi bắt đầu nhận ra rằng những câu chuyện kể không bị hạn chế bởi biên giới. Thí dụ như nếu không thử đi du lịch một vòng các nước trong khu vực Đông Nam Á, sẽ không thể hiểu được thành phố Kuala Lumpur và nguyên do của sự ám ảnh về chủng tộc tại đây.

Hơn thế nữa, trong một thời đại của nước Anh tách rời liên minh Châu Âu và sự lên ngôi của ứng viên tổng thống Mỹ Donal Trump cùng với những dự báo sai lầm từ các chuyên gia uy tín, phong cách tìm hiểu của chuyên mục CeritalahAsean trở nên thật cần thiết vì chuyên mục kể chuyện từ góc nhìn của những con người bình thường. Bản thân tôi hoàn toàn không muốn áp đặt mắt nhìn của mình lên thế giới, thay vào đó, tôi cũng là một người trăn trở khi nghĩ về những câu chuyện, những mảnh đời tôi có thể đang bỏ lỡ.

Bạn sẽ dễ dàng bắt gặp tôi trên đường phố, tay cầm sổ ghi và bút, chỉnh ghế gần vào với người được phỏng vấn và bắt đầu nói “ceritalah...”.

Trước đây tôi hay viết về các đảo quốc Đông Nam Á, bây giờ tôi hay đi tới Việt Nam, Thái Lan và Myanmar: một cuộc chuyển dịch từ xã hội phần lớn theo Hồi giáo và Công giáo sang tìm hiểu môi trường đa số hướng theo Phật giáo và đạo Khổng.

Một phần cũng vì tôi thấy mệt mỏi với chính trị, nếu bạn là người Malaysia, có lẽ bạn cũng sẽ có cảm nghĩ giống tôi. Vậy nên tôi muốn viết nhiều hơn về văn hóa đại chúng, về những thứ mà mọi người chia sẻ, về sự đam mê điện thoại thông minh, về các ca sĩ, cầu thủ, diễn viên mà xã hội quan tâm.

Cộng đồng Kinh tế Asean (AEC) mới được thành lập vào đầu năm nay cũng là nguồn động lực để tôi đi tới các nước ASEAN khác nhiều hơn nữa.

Tôi đã ở London trong những ngày người dân Anh Quốc bỏ lá phiếu đi ngược với lợi ích của chính mình để rời khỏi Liên minh Châu Âu, trong những giờ phút này, tôi vô cùng hứng thú với thí nghiệm chung mà chúng ta đang trải qua.

Liệu chúng ta có hiểu điều chúng ta đang làm không? Phải chăng có một chiến lược lớn nào đó đang ấp ủ? Liệu việc thành lập Cộng đồng Kinh tế Asean có thực sự tác động đến cuộc sống của những công dân Asean bình thường hay không?

Để có thể hiểu và trả lời được những câu hỏi lớn này, tôi quyết định thả mình vào không gian xã hội Asean và vượt thoát khỏi những câu chữ ngoại giao dài dòng để đi tìm kiếm một điều kết nối tất cả những người dân Asean chúng ta.

Khu vực Đông Nam Á này có phải chỉ là một bàn đàm phán tiện dụng kẹt giữa hai bên Ấn-Trung, luôn xuề xòa với Ấn Độ và sợ hãi với Trung Hoa, hay thực sự có một sợi chỉ đỏ xuyên suốt các quốc gia Đông Nam Á, điều như người Indonesia vẫn thường gọi là “benangmerah”?

Cho dù câu trả lời có như thế nào, quý độc giả cũng có thể chắc một điều rằng tôi sẽ có nhiều chuyến tạt ngang trên con đường truy tìm những câu chuyện của mình, khi là vì một gương mặt xinh đẹp, khi lại vì quán chè bánh lọt đặc biệt hấp dẫn ngay góc phố.

Tôi sẽ viết về những xu hướng mà bản thân cảm thấy thú vị và mong rằng các độc giả cũng có chung cảm nghĩ. Thêm vào đó, tôi sẽ phân tích cả những sự kiện diễn ra ngoài khu vực nhưng có sức ảnh hưởng lên Asean.

Tuy Ceritalah là một cuốn sổ ghi chép về những gì tôi làm, quan sát, suy nghĩ và cảm nhận, tôi thực sự mong rằng nó sẽ dần dần trở thành chuyên mục được chia sẻ, giàu tính tương tác và có sức lan tỏa.

Vì sao lại như vậy?

Do tựu chung lại, đây chính là những cerita, những câu chuyện của chúng ta, mang chúng ta tới gần nhau hơn và làm nên con người chúng ta.

Karim Raslan

TQ cử trợ lý bộ trưởng giúp Việt Nam xúc tiến TM

“Việt Nam (VN) cần nhập khẩu nhiều từ phía Trung Quốc (TQ), nhưng liệu VN có đủ hàng hóa để xuất khẩu sang TQ hay không. Vừa rồi, hai bên đã bàn bạc với VN cụ thể hơn về các biện pháp thúc đẩy thương mại song phương. Họ cam kết sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa VN có thể xuất khẩu sang TQ. Họ cử hẳn một trợ lý bộ trưởng thương mại tập trung vào việc phối hợp với VN nhằm đẩy mạnh xúc tiến thương mại (XTTM) của VN”, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết.

LTS: Cuối tuần trước, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã kết thúc chuyến thăm Trung Quốc. Tuần Việt Nam có cuộc phỏng vấn nhanh với Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải về việc thúc đẩy xuất khẩu sang Trung Quốc và hạn chế nhập siêu từ Trung Quốc.

Thưa ông Đỗ Thắng Hải, theo báo chí đưa tin, Thủ tướng Lý Khắc Cường khẳng định Trung Quốc không theo đuổi xuất siêu sang Việt Nam, sẵn sàng thúc đẩy cân bằng thương mại song phương. Vậy hai bên đã bàn thảo những biện pháp nào để hạn chế nhập siêu của VN từ phía TQ đã tăng cao, ví dụ nhập siêu từ Trung Quốc (năm 2015) là 32,3 tỉ USD, tăng 12,5% so với 2014?

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải: VN cần nhập khẩu nhiều từ phía TQ, nhưng liệu VN có đủ hàng hóa để xuất khẩu sang TQ hay không, có đáp ứng được nhu cầu của thị trường TQ hay không là một vấn đề khác. Trong chuyến đi này kể cả lãnh đạo cấp cao lẫn Bộ Thương mại TQ đã bàn bạc với VN cụ thể hơn về các biện pháp thúc đẩy thương mại song phương. Họ cam kết sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa VN có thể xuất khẩu sang TQ:

Thứ nhất, tạo điều kiện để VN tiếp tục mở các văn phòng XTTM tại các địa phương. Hiện nay VN mới mở văn phòng XTTM ở Trùng Khánh, và sẽ tiếp tục mở thêm ở Tứ Xuyên, Chiết Giang hay Giang Tô. Đó là cách tốt nhất để VN tiếp cận với thị trường TQ.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải, Thứ trưởng Bộ Công Thương, nhập siêu, xuất khẩu, nhập khẩu, xúc tiến thương mại
Thứ trưởng Bộ Công Thương - Đỗ Thắng Hải

Thứ hai, thúc đẩy các điều kiện cho hàng hóa của VN vào TQ. Từ năm 2013 VN đã ký với TQ bản ghi nhớ về hợp tác thương mại trong nông sản. Về biên mậu TQ sẽ giúp VN trong việc thỏa mãn các điều kiện để nông sản VN có thể vào TQ như kiểm định hàng hóa… Điều này rất có lợi trong việc xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi như lợn sữa, lợn sống…, bởi các mặt hàng này cho tới nay chưa có trong danh mục an toàn thực phẩm ở thị trường TQ.

Hai bên tiếp tục triển khai ngay Hiệp định Thương mại Biên giới sửa đổi mà Bộ trưởng Công thương của VN và Bộ trưởng Thương mại của TQ đã ký trong chuyến thăm. Hiệp định này được nâng cấp lên trên cơ sở những điều đã ký trong lần trước.

Một điều rất quan trọng nữa là hai bên thúc đẩy các điều kiện pháp lý về mở cửa thị trường và tháo gỡ các rào cản đối với nông sản và thủy sản xuất khẩu của VN vào TQ, nhất là gạo, sữa, thịt lợn, hoa quả… là thế mạnh của VN.

Tóm lại, hai bên nhất trí đẩy mạnh xuất khẩu hàng VN qua cả kênh chính ngạch và đường biên mậu.

Họ cử hẳn một trợ lý bộ trưởng thương mại tập trung vào việc phối hợp với VN nhằm đẩy mạnh XTTM của VN. Không chỉ là việc thành lập văn phòng XTTM đâu, mà cả hội chợ triển lãm, phía TQ cũng rất quan tâm. Ví dụ Đông Hưng ở cạnh Quảng Ninh, Hà Khẩu ở cạnh Lào Cai, hoặc Bằng Tường ở cạnh Lạng Sơn… Hội chợ TQ – ASEAN ở Quảng Tây vừa rồi phía VN làm rất tốt, mang lại thành công chung cho phía tổ chức là TQ, mà cũng tăng cơ hội cho hàng hóa VN vào TQ.

Họ cũng hứa giúp VN trong việc XTTM thông qua phương tiện thương mại điện tử, và giúp VN trong việc lập chính sách xuất khẩu sang TQ.

Đấy là cố gắng của phía TQ trong việc tiếp nhận hàng xuất khẩu VN. Thế nhưng, về phía VN, muốn giảm nhập siêu VN cần làm những gì?

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải: Có hai cách để giảm nhập siêu: một là thúc đẩy xuất khẩu, hai là giảm nhập khẩu. Vừa rồi VN làm rất tốt việc tăng xuất khẩu, thế nhưng nhập khẩu lại tăng nhiều hơn khiến cho nhập siêu ngày càng tăng.

Tức là khả năng nội địa hóa ở VN đang rất kém, và VN phải nhập nhiều linh kiện, phụ tùng và nguyên phụ liệu từ TQ, ví dụ Việt Nam phải nhập hơn 60% nguyên liệu đầu vào từ Trung Quốc?

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải: Đúng rồi. Thái Lan và Malaysia chẳng hạn, cũng thuộc ASEAN, nhưng họ không phải nhập linh kiện, phụ tùng từ TQ, nên cán cân thương mại có lợi cho họ. Cho nên chúng ta phải đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ, và kêu gọi người VN ưu tiên dùng hàng VN.

Hơn nữa, VN phải đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, VN có thể thay thế một phần hàng hóa nhập khẩu từ TQ bằng hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác, chẳng hạn ASEAN khi cộng đồng kinh tế ASEAN vừa được thành lập.

Kim ngạch của 2 nước năm nay dự kiến sẽ đạt 100 tỷ USD, theo số liệu của phía TQ, tức là cả xuất khẩu và nhập khẩu sẽ cùng tăng lên.

Nghe nói các doanh nghiệp TQ đang cố gắng tận dụng TPP để xuất hàng sang VN nhằm bán sang các nước thành viên của TPP. Liệu điều đó có làm cho nhập siêu từ TQ ngày càng tăng không?

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải: Không chỉ có TQ mà DN nhiều nước khác cũng chờ đón TPP bằng cách thành lập các nhà máy ở VN và xuất đi. Vì vậy, trong thời gian đầu, khi họ đầu tư lập nhà máy thì việc nhập khẩu máy móc sẽ tăng mạnh, và tất nhiên tạo ra nguy cơ nhập siêu ngày càng tăng. Khi họ bắt đầu sản xuất thì chắc chắn xuất khẩu phải lớn hơn nhập khẩu để bảo đảm có lãi.

Cuộc vận động người VN ưu tiên dùng hàng VN cho đến nay đã thành công chưa, thưa ông?

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải: Rất thành công, nhưng không liên tục. Vấn đề này cũng phụ thuộc vào các nhà sản xuất hàng hóa VN, nếu hàng họ tốt, giá cạnh tranh thì người VN sẵn sàng ưu tiên dùng hàng của họ. Nhưng nếu chất lượng kém hơn và giá cả lại cao hơn hàng nước ngoài, đặc biệt là hàng TQ, thì vận động người tiêu dùng rất khó. Đối với nguyên phụ liệu cũng vậy, nếu DN cảm thấy nguyên phụ liệu của TQ rẻ và tốt hơn thì chắc chắn họ phải nhập khẩu để làm hàng xuất khẩu.

Nghe nói phía TQ cũng có đặt điều kiện là quan hệ thương mại sẽ được thúc đẩy, nếu quan hệ nói chung, nhất là biển đảo, được giải quyết ổn thỏa, có đúng không, thưa ông?

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải: Không. Nhưng các lãnh đạo cấp cao TQ đều nhấn mạnh rằng hai nước có thể chế chính trị tương đồng, vì vậy các mối quan hệ kinh tế phải dựa trên quan hệ chính trị tốt đẹp. Không ai đụng đến hai chữ biển đảo cả.

Kể cả Thủ tướng VN cũng nói hai bên có những vấn đề do lịch sử để lại thì hai bên vẫn phải giải quyết bằng con đường thương lượng và sử dụng các biện pháp hòa bình, còn hợp tác kinh tế thì hai bên vẫn tiếp tục để đẩy mạnh quan hệ lên.

Xin cám ơn ông Đỗ Thắng Hải.

Huỳnh Phan thực hiện

Đạo đức mạng: Chết thiêu chứ không được cởi áo?

Ở Saudi (Ả Rập Xê Út) 15 nạn nhân bị nhốt đến chết trong đám cháy vì không có khăn trùm đầu, ở Việt Nam 'cư dân mạng' bắt nạn nhân thà chết thiêu chứ không được cởi bỏ cái áo con.

Năm 2002, trong một vụ cháy trường học ở Saudi (Ả Rập Xê Út), học sinh nữ nháo nhào chạy thoát thân. Khi đó ở các lối ra vào, một số thầy tu tôn giáo đã ngăn cản các nhân viên nam chữa cháy vì các cô bé trong lúc vội vàng tìm cách vượt ra ngoài thoát chết, các em quên... mang khăn trùm đầu. Hậu quả là 15 nạn nhân chết ngạt.

Đây là chuyện xảy ra ở vương quốc dầu hoả, nơi phụ nữ mới có quyền bầu cử năm ngoái, không được phép lái xe, ra phố hay đi nước ngoài hoặc mở tài khoản đều phải được phép và có người đi kèm. Giáo lý của Saudi (Wahhabism) được cho là nền móng hình thành các phần tử cực đoan và bạo lực thánh chiến như IS.

Đây là câu chuyện tôi có nhắc đến trong cuốn Con Đường Hồi Giáo. Nó đập ngược trở lại trí nhớ khi tôi đọc thông tin về vụ cháy quán karaoke ở Hà Nội vừa qua. Bình luận thì có nhiều loại, nhưng vài lời chì chiết khiến tôi hoảng sợ.

đạo đức, mạng xã hội, định kiến, kì thị, độc ác, nhân cách, con người
Bức ảnh gây tranh cãi và cô gái (áo đỏ) nạn nhân của những bình luận ác ý mấy ngày qua

Lời tuyên án của định kiến

Khi đọc nhiều bình luận khác thì tôi hiểu rằng lý do thực sự là do nghề làm tiếp viên quán karaoke bị đánh đồng với nghề lao động mại dâm. Điều khủng khiếp ở đây là những vị “quan toà” này tự tuyên án mà không cần bằng chứng.

Có tờ báo thậm chí còn mớm cho lời tuyên án này bằng cách chạy tít đậm "Nhiều cô gái trẻ gợi cảm chạy ra từ đám cháy". Dường như họ muốn độc giả ngay lập tức kết luận: "Đấy, ăn mặc gợi cảm thì làm nghề gì biết rồi đấy".

Tại sao lại có sự đánh đồng như vậy? Đơn giản vì nếu đó là một nhóm khách nữ đi karaoke, hay một nhân viên đơn thuần, hay thử tưởng tượng hẳn là họ chạy ra từ một công sở đi, cô gái có cách xử lý cực kỳ thông minh và có hiểu biết là dùng áo ngực thấm nước che mặt ấy sẽ được tung hô như vị anh hùng. Kỹ năng sống quan trọng đó không phải ai cũng biết, vì trong hoả hoạn ta dễ bị chết ngạt hơn chết thiêu.

Điều dang dở ở đây là những cô gái này lúc đó chưa ai xác định được họ là ai, và việc nhấn mạnh vào sự ăn mặc gợi cảm của các cô là để hướng dư luận tuyên án dễ dàng hơn. Dư luận thì thật ra cũng chẳng cần đến những lời bú mớm ác ý đó, vì định kiến xã hội mạnh hơn sự công bằng: Làm ở quán karaoke thì là gái làm tiền. Không ai có bằng chứng, nhưng cần gì bằng chứng?

Chúng ta nhìn những người xăm trổ đầy mình và kết luận họ là dân lưu manh đầu gấu, coi những ông chồng nhường nhịn bà xã là đàn ông hèn, những bạn trẻ sống thử là hư hỏng, những người ăn mặc lam lũ là hạng bần cùng. Cũng vậy, làm ở quán karaoke mà lại ăn mặc gợi cảm thì đương nhiên là gái bán hoa.

Tất nhiên không ai thoát khỏi sợi dây trói định kiến, nhưng ai cũng có thể tự ý thức được sự bất công của nó. Hãy tưởng tượng một ngày kia khi bước chân vào siêu thị ở Nhật và thấy tấm biển tiếng Việt "Ăn cắp là tội phạm". Hãy tưởng tượng người dân của nhiều nước đang định kiến rằng cứ người Việt là chôm chỉa, ăn buffet để thừa mứa, sang Singapore làm gái bán hoa, ở châu Âu thì trồng thuốc phiện…

Thấy chưa? Bạn cũng chính là nạn nhân của định kiến, vậy hãy cố gắng bớt làm những “quan toà” chỉ thích tuyên mà không cần chứng.

Tình yêu bầy đàn

Trở lại câu chuyện về các cô gái thoát chết ở quán karaoke. Tôi đọc được một số comment khá ác độc, nói rằng họ là lũ ăn không ngồi rồi, cướp chồng người khác (!)

Trong bài viết này, tôi chỉ đề cập đến nguyên nhân chúng ta có xu hướng thích xỉ nhục người khác. Một nguyên nhân quan trọng nhất là do chúng ta cần phải bảo vệ người cùng phe với mình. Con người là sinh vật bầy đàn, không có bầy đàn thì cá nhân không tồn tại. Vì vậy, bầy đàn trở thành đối tượng quan trọng để yêu thương, hy sinh và bảo vệ.

Trong quá trình tiến hoá, chúng ta dần dần xây dựng khả năng nhận biết kẻ cùng bầy đàn thông qua ngôn ngữ, cách ăn mặc, giá trị, hoặc hành vi... Kẻ không chia sẻ những đặc tính này thường kích hoạt hệ thống amygdala của não với tín hiệu "kẻ lạ, dè chừng".

Khi phải cạnh tranh nguồn sinh sống, chúng ta không thể vị tha với kẻ khác bầy đàn giống như kẻ cùng bầy đàn được, và tiến hoá xã hội hình thành một công cụ hữu hiệu để giúp con người có đủ dã tâm tàn hại kẻ khác: "phi nhân hoá" (demonization- nguyên bản là "biến kẻ khác thành quỷ dữ").

Để lòng trở nên vô cảm với kẻ thù, ta sẽ miêu tả họ là vô đạo đức, dã thú, xấu xa. Giết một kẻ xấu xa sẽ dễ dàng hơn giết một kẻ cũng giống như chúng ta. Trong chiến tranh, phi nhân hoá là công cụ đắc lực để con người coi đồng loại là loài cầm thú đáng bị tiêu diệt, để vượt qua lòng vị tha và sẵn sàng vung kiếm. Việc Tổng thống Philippines nói dân nghiện “không phải là người” để có thể giết họ không cần xét xử là một ví dụ. Những cô gái trong câu chuyện của chúng ta cũng vậy.

Để phân biệt thứ cấp bầy đàn, chúng ta có hai cách, một là tự đề cao bản thân, hai là hạ thấp người khác.

Một cách gián tiếp, sỉ nhục hạ thấp người khác khiến cho chúng ta cảm thấy hài lòng với bản thân thực tại của mình, hài lòng với nhân cách mình đang có, và giúp ta tự khẳng định giá trị bản thân mà không mất nhiều thời gian tự kiểm điểm. Nếu người kia xấu xa thì đương nhiên mình tốt đẹp. Những vấn đề mà mình đang có không cần phải xem xét, những xấu xa mà mình đang có đương nhiên nhận cực trái dấu và trở thành đức hạnh.

Vấn đề là ở chỗ đây không phải hai cực trái dấu. Mạt sát, xỉ nhục người khác không khiến cho cuộc sống của chúng ta tốt đẹp hơn mà thậm chí làm lu mờ những điều ta cần chỉnh sửa. Như một kẻ phải bắt nạt người khác mới thấy mình mạnh mẽ, bôi đen người khác mới có thể tự thuyết phục rằng mình trong sạch, giết chết người khác mới có thể biết rằng mình đang sống.

Cũng giống như định kiến, vừa phải thôi, chứ nhiều quá lại thành đáng thương.

Nguyễn Phương Mai